di-hinh-ta-than
DĨ HÌNH TẢ THẦN: Từ Mỹ Học Hội Họa Cổ Trung Hoa đến Nội Gia Quyền¶
----------
Nói về mối quan hệ giữa Hình và Thần phải nhắc đến Danh hoạ Cố Khải Chi, ông là họa sư vĩ đại nhất thời Đông Tấn đồng thời là nhà lý luận hội họa, thi nhân và thư pháp gia nổi tiếng.
Cố Khải Chi là người đầu tiên hệ thống đề xuất lý luận hội họa ở Trung Quốc, qua ba tác phẩm: "Họa Luận", "Ngụy Tấn Thắng Lưu Họa Tán" và "Họa Vân Đài Sơn Ký", trong đó ông nhấn mạnh
"dĩ hình tả thần" : Dùng hình thể bên ngoài (cấu trúc, tư thế) để miêu tả thần vận nội tại (tinh thần, khí chất, hồn phách).
Không chỉ giống hình ngoài da, mà phải qua hình chính xác để truyền tải "thần thái" sống động, đạt "hình thần kiêm bị" – có cả hình lẫn thần, hãy rõ hơn nữa còn gọi là :
"Truyền thần tả chiếu"
Trong đó " Truyền Thần" là truyền đạt thần thái, tinh khí, sinh mệnh nội tại của đối tượng, "Tả Chiếu": ghi lại hình tượng cụ thể, ngoại quan. => Tả chiếu chỉ là phương tiện, truyền thần mới là mục đích.
Cố Khải Chi chủ trương:
“Hình có thể chưa giống tuyệt đối,
nhưng thần mà không đạt thì tranh chết.”
Tư tưởng này của Cố Khải Chí được các hoạ sĩ đời sau của Trung Quốc đều lấy làm tư tưởng chính trong tranh vẽ của mình.
Ví dụ như Ngô Đạo Tử – thời Đường, còn được gọi là “Họa thánh” có câu:
"Ý tại bút tiên, thần hành bút ngoại."
Dịch nghĩa : Ý ở trước bút, thần vận ngoài bút, trước khi đặt bút vẽ thì người hoạ sĩ đã có "Ý" rồi sau đó đặt bút thì bút mới có "Thần" Thần thái, khí vận vượt ra ngoài nét bút hữu hình là nhờ có Ý.
Nếu không có điều này thì chỉ gọi là thợ vẽ mà thôi ![🙂][image16]
Cho nên Tô Thức hay còn gọi là Tô Đông Pha, linh hồn khai sáng của Văn nhân họa thời Bắc Tống có câu:
"Luận họa dĩ hình tự, kiến dữ nhi đồng lân"
(Bàn tranh mà chỉ nói hình giống thì chẳng khác trẻ con)
Quan điểm của Tô Thức lấy ý – thần – khí làm cốt lõi, không xem kỹ xảo và hình giống là tiêu chuẩn tối thượng.
-------------------
Tại sao lại nhắc đến Hội hoạ cổ Trung Quốc
Vì Tư Tưởng của Hội hoạ cổ rất giống với Tư Tưởng của Nội gia Quyền,
Đầu tiên là
"Dĩ Hình Thủ Ý"
Luyện hình để giữ ý, lấy hình làm nơi nương của ý,
Đây là giai đoạn nhập môn, tập trung vào việc mô phỏng hình thể bên ngoài để thu lấy ý cảnh nội tại. Ban đầu, người luyện phải làm cho hình thể chính xác theo chỉ dẫn của người dậy, từ đó lĩnh ngộ được cái Thần thái ở bên trong mỗi Hình
Chính vì thế mỗi chiêu mỗi thức trong Nội Gia quyền đều có tên, và Tên chính là nói lên cái Thần thái cần phải có của chiêu, thức đó.
ví dụ như "Vân Thủ" trong Thái Cực Quyền, cá tên Vân Thủ chính là Thần thái tay vân như mây trôi – liên miên bất tận, ý cảnh tuần hoàn vô cùng.
hay "Hổ Phác Thức" trong Hình Ý : Thần thái cần có (theo tên chiêu): Hung mãnh, uy nhiếp, sát khí lộ rõ, bất ngờ lao vọt như hổ đói vồ mồi, khiến đối thủ chưa đánh đã kinh hồn. Nếu chỉ lao người mà mắt vô hồn, tay mềm oặt, thì không phải Hổ Phác – chỉ là múa máy.
Cho nên mới gọi là :
"Tượng kỳ hình, thủ kỳ ý, nội ngoại kiêm tu, hình ý hợp nhất"
Ý nghĩa: Mô phỏng hình để lấy ý, tu luyện nội ngoại, đạt hình ý hợp nhất – đây là khẩu quyết phổ biến trong thập nhị hình, nhấn mạnh sơ cấp là "thủ ý" qua hình
------
tiếp theo là:
"Dĩ ý lãnh hình" ( Dùng ý dẫn hình)
Giải đoạn tiếp theo của "Dĩ Hình thủ ý" Động tác không còn máy móc giống hình, mà linh hoạt biến hóa theo ý – "ý đến hình đến, hình tùy ý chuyển".
Hiểu đơn giản đó là Ý trở thành "chủ soái" dẫn dắt mọi bộ phận trên cơ thể , dẫn khí vận thân, , miêu tả bằng chữ nghĩa mối quan hệ vận động giữa HÌnh và Ý có câu:
"Hình do ý chuyển, ý tự hình sinh"
Ý nghĩa: Hình chuyển theo ý, ý sinh từ hình – nhấn mạnh ý lãnh hình sau khi thủ ý.
---
Đến Viên mãn chính là
"Hình ý bất phân, thần ý hợp nhất"
Hình và ý không còn phân biệt, ý và thần (tinh thần, hồn phách) hợp nhất.
"Quyền vô quyền ý vô ý, vô ý chi trung thị chân ý, quyền đả tam tiết bất kiến hình, như kiến hình ảnh bất vi năng"
Ý nghĩa: Quyền vô quyền, ý vô ý, chân ý trong vô ý; đánh không thấy hình – hình ý bất phân, thần ý hợp nhất.
Đây chính là cảnh giời mà Tôn Lộc Đường nhắc đến "Hình ý hợp nhất, thần ý hợp nhất"
Đến cuối cùng chính là câu nói của Trang Tử – trong "Đại Tông Sư" :
"Được ý rồi thì quên hình"
Không còn hình để giữ, không còn ý để dùng, chỉ còn thần vận hành.
Nói tóm lại Hình không vì Hình mà tồn tại; Hình sinh là để Thần hiển. Trong Nội gia Quyền có lưu truyền tư duy
"Sơ học thủ hình,
trung học dụng ý,
đại thành vong hình vong ý."
------
Tại sao trong bài này chỉ nhắc đến mối quan hệ giữa Ý - Hình - Thần mà không nhắc đến Khí ?
Trong hệ thống này, Khí không được đặt làm đối tượng thao tác trực tiếp. Khi Thần đã hiển, trục Hình–Ý đã thuận, thì Khí tất yếu vận hành đúng quy luật. Can thiệp có chủ ý vào Khí ở giai đoạn này thường dẫn đến phản tự nhiên.
----
![][image17]
Người gù bắt ve - chuyện Trang Tử kể
-------------------------------
Khổng Tử đi sang nước Sở, ra khỏi rừng thì thấy một người lưng gù đang bắt ve,
bắt ve như nhặt vật dưới đất, không hề trượt.
Khổng Tử hỏi:
“Ông thật khéo! Có đạo gì chăng?”
Người gù đáp:
“Tôi có đạo.
Vào tháng năm, tháng sáu,
tôi xếp hai viên đạn trên đầu gậy mà không rơi,
thì trượt cũng rất ít.
Xếp ba viên mà không rơi,
thì mười lần chỉ trượt một.
Xếp năm viên mà không rơi,
thì bắt ve như nhặt.
Thân tôi giữ như gốc cây khô cắm đất,
tay tôi giữ như cành cây chết.
Dẫu trời đất rộng lớn,
vạn vật nhiều vô kể,
tôi không lấy gì đổi lấy cánh ve.
Thì sao lại không bắt được?”
Khổng Tử quay lại nói với học trò:
" Chuyên chú mà không phân tán,
thì thần sẽ tụ lại.
Người gù này, chính là như thế!”
------------
Câu chuyện này là biểu tượng kinh điển cho "tâm chuyên nhất, thần ngưng tụ"
Tập cái gì cũng được nhưng cần "chuyên nhất"
![][image18]