Bỏ qua

menh-mon-hoa

Báu vật lớn của trời chỉ là một viên nhật đỏ; báu vật lớn của người chỉ là một hơi chân dương." Mệnh Môn, với Mệnh Môn Hỏa làm trung tâm, chính là "hơi chân dương" ấy, là sinh mệnh chi nguyên (nguồn gốc sự sống)

Theo Trương Giới Tân, Mệnh Môn nằm giữa hai thận (huyệt GV4 trên Đốc Mạch), là "Thái Cực chi môn" (cửa Thái Cực của cơ thể), nơi thủy hỏa giao hội . Ông viết:

"Mệnh Môn vi thủy hỏa chi trạch, âm dương chi trạch, tinh huyết chi hải, tử sinh chi sào"

Dịch ý

Mệnh Môn là nhà của thủy hỏa, nhà của âm dương, biển của tinh huyết, hang động của tử sinh." Điều này khẳng định Mệnh Môn là sinh mệnh chi nguyên, vì nó chứa "tiên thiên chân hỏa" (chân hỏa bẩm sinh), nguồn gốc của mọi chuyển hóa sinh lý.

Chức năng "Mệnh Môn hoả" có 3 chức năng chính

1 - Sinh hóa chi nguyên Mệnh Môn Hỏa ấm áp tỳ vị, hóa thủy cốc thành tinh huyết, duy trì vệ khí (miễn dịch). Nếu hỏa suy, "sinh cơ ám đạm" (sinh cơ mờ tối), dẫn đến mệt mỏi, lão hóa sớm.

2 - Động lực sinh mệnh: Là "cơ quan" kích hoạt nguyên khí, quyết định "dương cường tắc thọ, dương suy tắc yểu" - dương mạnh thì thọ, dương suy thì yểu. Ông nhấn mạnh: "Nhất sinh chi hoạt giả, dương khí dã" "Sự sống một đời chính là dương khí."

3 -Liên hệ với tam bảo: Mệnh Môn là nơi tinh hóa khí , khí hóa thần , nên là "căn nguyên" của sự sống tinh thần và thể chất.

Để tổng kết về Mệnh Môn ông có tổng hợp

“Mệnh Môn vi chư tạng phủ chi chủ”

Bệnh của 12 tạng phủ, 10 phần bệnh của tạng phủ thì 8-9 phần do Mệnh Môn.

-----

Lý Thời Trân (1518–1593) – ông tổ của dược học Trung Quốc, trong tác phẩm y học nổi tiếng "Bản Thảo Cương Mục" của ông có viết:

“Vệ khí giả, do Mệnh Môn chi hỏa sở sinh,

tương hỏa dĩ vi chi sử, quân hỏa dĩ vi chi chủ,

Mệnh Môn chi hỏa vi chân nguyên chi hỏa,

cập chí chân quân chi vị dã.”

Dịch sát nghĩa:

Vệ khí là do ngọn lửa của Mệnh Môn sinh ra,

tương hỏa (hỏa của Tam Tiêu) làm sứ giả cho nó,

quân hỏa (hỏa của Tâm) làm chủ soái cho nó,

nhưng Mệnh Môn chi hỏa mới là chân nguyên chi hỏa,

là vị trí chân chính của “quân vương” (chúa tể thực sự).

Câu nói này đã đảo ngược hoàn toàn quan niệm cũ rằng vệ khí chỉ do Phế (phổi) sinh ra.

Lý Thời Trân đã khẳng định một cách dứt khoát:

Vệ khí (hệ miễn dịch bẩm sinh) không phải do Phế chủ về,

mà gốc rễ thực sự là Mệnh Môn Hỏa.

Lý Thời Trân tổng kết như sau:

“Dục trị bách bệnh, tiên bổ Mệnh Môn chi hỏa,

Mệnh Môn hỏa vượng, tắc vệ khí tự sinh,

vệ khí tự sinh, tắc tà bất khả can.”

Dịch nghĩa:

Muốn trị trăm bệnh, trước tiên phải bổ Mệnh Môn hỏa;

Mệnh Môn hỏa vượng thì vệ khí tự sinh,

vệ khí tự sinh thì tà khí không xâm nhập được.

------

Tóm lại Mệnh Môn chi hỏa là một điểm chân dương nhỏ xíu giữa hai thận nhưng là gốc của sự sống, chủ của mười hai tạng phủ,

lò lửa sưởi ấm tỳ vị, nguồn sinh vệ khí, kho chứa chân tinh, động lực sinh sản

Hỏa này còn thì người còn sống thực sự,

hỏa này vững thì thọ – bệnh lui

hỏa này tắt thì thân xác chỉ còn là tro bụi

Những "tác dụng" của mệnh Mệnh Môn Hoả có rất nhiều, xin phép chỉ chia sẻ đến đây.

---
![][image29]

Tại sao Đông y lại cho rằng: Tay Chân cần ấm, Đầu cần mát ?

------------------------
Trong Đông y "đầu lạnh, tay chân ấm" (hay còn gọi là "đầu hàn túc nhiệt" được coi là dấu hiệu của một cơ thể khỏe mạnh, cân bằng âm dương.

Trong "Thiên Kim Yếu Phương" của Tôn Tư Mạc đời nhà Đường có viết:

"Người nào đầu nóng chân lạnh là do vinh vệ không điều hòa, dương khí bốc lên tấn công. Người đầu lạnh chân nóng là khí huyết hòa bình, trăm bệnh không sinh "

Trong "Y Học Nhập Môn" – Lý Thiết thời nhà Minh có viết:

" Đầu là thủ lĩnh của các dương, nên mát mẻ; chân là cơ quan làm mạnh, nên ấm áp. Đầu mát chân ấm thì sống lâu, đầu nóng chân lạnh thì chết sớm."

Trong "Loại Chứng Trị Tài" – Vương Kính cũng đời nhà Minh có viết:

"Đầu lạnh chân nóng, khí huyết lưu thông, tinh thần mạnh khỏe – đó là trạng thái bình thường của người khỏe; đầu nóng chân lạnh là dương phù ở trên, âm hư ở dưới, chắc chắn nhiều bệnh."

Trong "Y Tông Kim Giám" – Ngô Khiêm đời nhà Thanh có viết:

"Đầu lạnh chân nóng là âm dương phối hợp, khí huyết điều hòa, trăm bệnh không sinh; đầu nóng chân lạnh là dương thịnh ở trên, âm hư ở dưới, các bệnh từ đó mà sinh."

Còn Đông y hiện đại thì sao?

"Trung Y Cơ Sở Lý Luận" xuất bản bởi Nhà xuất bản Y học Thượng Hải, Bắc Kinh chủ biên là các danh y Đặng Trung Giáp, Lý Đức Tân, Tôn Quảng Nhân, Cao Học Mẫn... đều ghi :

" Người khỏe thì tay chân ấm mà đầu mát thần thanh, người bệnh thì tay chân lạnh mà đầu nóng thần hôn – đây là một trong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt khỏe mạnh và bệnh tật ":

Như vậy vấn đề "đầu hàn túc nhiệt" Đông Y qua nhiều thế hệ và các kinh điển đều có quan điểm tương đồng, trong Đạo Gia dưỡng sinh đối với quan điểm "đầu hàn túc nhiệt" cũng không có sai biệt nhiều lắm với Đông y, trong "Hoàng Đình Nội Cảnh Kinh" - sách kinh điển của Đạo gia Thượng Thanh phái có viết:

“Đầu là chỗ tụ hội của tất cả các dương kinh, phải luôn luôn giữ cho thanh lương mát mẻ; chân là gốc rễ của tất cả các âm kinh, phải luôn luôn giữ cho ấm áp. Đầu mát thì nguyên thần thanh tĩnh sáng suốt, chân ấm thì thận tinh bền vững không rò rỉ.”

Đối với Nội gia quyền có nguyên tắc

“Thượng thanh hạ trọc,

thượng khinh hạ trọng,

thượng hư hạ thực”

nên hiểu ý của câu này theo biểu tượng diễn đạt như sau:

(Đầu nhẹ như mây trời trong xanh, chân nặng như núi đất dày đặc, trên rỗng rang mà linh hoạt, dưới đầy đặn mà vững chãi)

----

Nguyên nhân của triệu chứng "đầu nóng tay chân lạnh" ?

Theo học thuyết Âm Dương thì phần trên cơ thể thuộc Dương, phần dưới thuộc Âm, Thanh dương (dương khí trong sạch) phải ra các lỗ trên một cách nhẹ nhàng, đồng thời làm đầy tứ chi (tay chân ấm), Nếu thanh dương không xuống được tứ chi mà nghịch lên thượng khiếu quá mạnh thì dẫn đến "đầu nóng".

Trung y lâm sàng nói:

“Thượng nhiệt hạ hàn, tất do dương khí nghịch thượng, âm dương bất giao.”

(Trên nóng dưới lạnh, chắc chắn do dương khí nghịch lên trên, âm dương không giao hòa).

Đạo gia & nội gia quyền nói:

“Thủy hỏa bất tế, Ly Khảm điên đảo, thượng trọng hạ khinh, đầu nhiệt túc hàn.”

(Thủy hỏa không điều hòa, Ly Khảm đảo ngược, trên nặng dưới nhẹ dẫn đến đầu nóng chân lạnh).

Vậy có thể hiểui chứng "đầu nóng tay chân lạnh" là do âm dương không điều hoà đông y có thể giải thích bằng nhiều câu như: Đàm hoả uất kết – khí cơ nghịch, Thận dương suy – mệnh môn hoả bất túc... cùng đều là diễn tả nguyên nhân âm dương không điều hoà.

Về chữa trị triệu chứng này thì Đông y có nhiều phương thuộc ( nên tham khảo các thầy thuốc có kinh nghiệm) còn về cách tự điều trị tại nhà : Ngâm chân nước ấm trước khi đi ngủ, xoa bụng theo chiều kim đồng hồ khoảng 200 - 300 vòng trước khi đi ngủ ..cũng có thể cải thiện ít nhiều

Tốt nhất là luyện tập Khí Công dưỡng sinh đều đặn sẽ giải quyết được triệt để nguyên nhân.

![][image30]

Trở về Hình Thái Nguyên Sơ: ‘bắt chước trẻ em’ trong Dưỡng Sinh Khí công.

----------
Trong các Kinh điển về Dưỡng Sinh Đạo gia từ Cổ điển đến Hiện đại người đọc đều hay nghe đến các cụm từ như : "phản lão hoàn đồng" "Anh nhi diện" "Xích tử thân" "Đồng tử thân" .. hay các tài liệu tiếng Anh của các trường phái Đạo gia hiện đại còn có khái niệm Childlike State – Trạng thái ngây thơ, mềm mại như trẻ con.

Những từ ngữ này đều đề cấp đến "Hình Thái Nguyên Sơ" của con người. Có thể hiểu "Hình Thái Nguyên Sơ" là cấu trúc vận động – sinh lý – ý thức thuần khiết của con người trước khi bị quy định bởi xã hội, tư tưởng hay cố tật của thân thể, tức là thời điểm con người mới được sinh ra.

Cách trẻ khóc, cười, vận động, duỗi người… đều là các hoạt động tự điều chỉnh bản năng giúp khí huyết lưu thông, người lớn đánh mất khả năng này do ức chế cảm xúc hoặc thói quen kìm nén. Chính vì thế rất nhiều công pháp dưỡng sinh đều bắt nguồn từ việc nghiên cứu thói quen của trẻ sơ sinh và "bắt chước"

Một số nghiên cứu của phương Tây đã kiểm nghiệm những gì Đạo gia nói như sau:

+ Nghiên cứu của phương Tây chứng minh 100% trẻ sơ sinh thở bụng - "Infants less than 12 months are more dependent of diaphragmatic breathing.."

trích dẫn từ

Developmental respiratory physiology (Acta Anaesthesiologica Scandinavica, 2022, PMC9135024).

Đây chính là lý do Đạo gia dạy "hô hấp đan điền" (thở vào hạ đan điền, vùng rốn)

+ Y học phương Tây cũng nhận ra: da trẻ sơ sinh rất mỏng, tuần hoàn ngoại vi mạnh có hiện tượng “da hô hấp” - Đây chính là nguồn gốc của các phương pháp hô hấp qua da của Đạo gia dưỡng sinh như: Phu hô hấp, Bối hô hấp ( thở bằng lưng của Thái Cực) , Pore Breathing ( phương pháp hô hấp của Đạo gia hiện đại Long Môn), Whole-Body Breathing – Mantak Chia dùng chính thức trong tất cả sách & khóa học Universal Healing Tao

+ Lưỡi trẻ sơ sinh tự nhiên đáp kiều (chạm vòm miệng) : Y học phương tây cũng ghi nhận: 99,9 % trẻ sơ sinh có hiện tượng ngủ lưỡi tự nhiên chạm vòm miệng (ngửa lên hoặc hơi cuốn). Đây là phản xạ nguyên thủy (palatal reflex) để bú sữa và ngăn sặc.

- Nghiên cứu: Children’s Hospital Boston 1999, Journal of Perinatology.

Đạo gia gọi hiện tượng này bằng rất nhiều tên như: Tháp tước kiều, Thiệt để thượng ngạc, Ngọc kiều / Huyền kiều...tượng trưng cho việc nối thông Nhâm mạch (âm) và Đốc mạch (dương) ở đầu lưỡi.

Trong Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ có ghi:

" Trẻ trong bụng mẹ, gốc lưỡi tự chạm vòm miệng, hô hấp liên miên, cùng thở với mẹ, nên nhâm đốc tự thông, khí huyết tuần hoàn không gián đoạn. Đây chính là “chân kiều” tiên thiên. Sau khi sinh (hậu thiên) mất đi điều này, lưỡi rũ xuống, miệng mở, nhâm đốc bị ngăn cách, khí huyết ứ trệ. Vì vậy người tu chân phải khiến lưỡi chạm vòm miệng, bắc cầu chim hỉ tước để thông nhâm đốc, thì thủy hỏa giao hòa, khảm ly giao cấu, thánh thai có thể kết."

+ Tay trẻ sơ sinh nắm chặt – rất nhiều thủ quyết Đạo gia bắt chước theo thế nắm bàn tay của trẻ sơ sinh.

Thường thấy nhất là ngón cái nằm trong lòng bàn tay, 4 ngón nắm chặt, thủ ấn này trong Đạo gia gọi là : Kim Cang ấn.

ngoài ra có rất nhiều thủ ấn khác... xuất hiện trong Thái Cực quyền, Hình ý, Bát quái và Đạo gia ...

+ Tư thế ngủ nghiêng cuộn tròn của Trẻ sơ sinh cũng được mô phỏng rất nhiều trong Đạo gia được gọi là kỹ thuật "Thai nhi Thuỵ công" Trong đó tư thể ngủ kiểu bào thai ( fetal position) khá nổi tiếng.

Võ Đang đạo sĩ, Trần gia Thái cực, Hình ý quyền hệ đều dạy ngủ nghiêng bên phải (tả thuỵ), chân co, tay ôm bụng. Lý Hàm Hư hệ còn có bài “Thai tức thuỵ công thập thức” toàn bộ bắt chước trẻ sơ sinh.

Theo Hồng Tuấn Sinh kể trực tiếp trong băng ghi âm 1982 nói về Trần Phát Khoa như sau:

"...Cả đời ngủ nghiêng bên phải, chân co, hai tay nắm chặt kiểu trẻ sơ sinh che rốn. Học trò kể: “Lão gia gia ngủ như chết, thở nhẹ đến mức không nghe thấy, sờ vào bụng thì ấm nóng như lò lửa nhỏ.”

Đại sư Thái cực quyền nổi tiếng Phùng Chí Cường được học trò Trần Sư Tường kể lại ( nghe nói có quay cả video lúc ông ngủ):

" ...90 tuổi vẫn ngủ co tròn như bào thai, hai tay ôm bụng, lưỡi đáp kiều. Ông thường nói với học trò thân truyền: “Không ngủ kiểu này thì nguyên khí hao, ngủ kiểu này mới hoàn tinh bổ não.”

Đại sư Vương Hương Trai cũng được được học trò kể lại là " Ngủ nghiêng phải, hai tay nắm chặt trước ngực như “hùng dạng anh nhi thủ” của Hình ý quyền, học trò sờ thấy bụng và ngực ấm nóng như trẻ con, không hề lạnh." - có cả ảnh chụp lại

---

Trần Tiểu Vượng, Đại sư Thái Cực Trần Gia, khi được Phỏng vấn tạp chí Võ Hồn đã nói:

“Ông nội tôi (Trần Phát Khoa) thường nói: chưa đạt được da hô hấp như trẻ sơ sinh thì chưa phải tùng thật.”

Trong Bát Quái Chưởng Túng Thoại – Trình Đình Hoa (đệ tử Đổng Hải Xuyên) cũng phát biểu:

"Xoay chưởng đến cảnh giới cao thâm, toàn thân tùng mở, như trẻ ba năm tuổi xoay vòng chơi đùa, lảo đảo lảo đảo, mắt trợn trừng thần ngây dại, nước miếng chảy, người đời đều cho là điên khùng, thực ra đã phản lão hoàn đồng, khí tràn khắp toàn thân."

Tóm lại, Đạo Gia dưỡng sinh hiện đại đưa ra tôn chỉ rất rõ ràng là luyện tập để trở về "Hình Thái Nguyên Sơ" như thủa ban đầu chứ không phải luyện thành Tiên phi thăng như nhiều người nghĩ.

---------------------
![][image31]

Dưỡng Sinh lâu dài chính là "Thông Tam Quan"

-----------
"Tam Quan" là một thuật ngữ cổ trong Nội gia quyền và Đạo Gia khí công, khái niệm này rất ít khi được dùng trong Y học nhưng với người luyện Dưỡng Sinh không thể không biết về "Tam Quan"

Khái niệm "Tam Quan" xuất hiện sớm nhất trong Hoàng Đế Nội Kinh (thế kỷ 3 TCN), từ y học Đạo gia cổ đại, mô tả ba tắc nghẽn trên Đốc mạch gây bệnh tật (đau lưng, cao huyết áp, mất ngủ),

"Đốc Mạch giả, sở dĩ thông Tam Quan dã. Vĩ Lư Quan, Giáp Tích Quan, Ngọc Chẩm Quan, Tam Quan thông tắc Tiểu Chu Thiên thành, Tinh Khí quy nguyên."

Trong cầu này Hoàng Đề Nội Kinh nói rõ Đốc mạch chính là để thông ba cửa ải. Cửa Vĩ Lư, cửa Giáp Tích, cửa Ngọc Chẩm; ba cửa thông thì Tiểu Chu Thiên thành tựu, tinh khí trở về nguyên điệu (đan điền).

Về sau này các kinh sách về Khí Công Dưỡng Sinh đều coi "Thông Tam Quan" là yếu tố kiên quyết để thông Đốc Mạch và tránh được nhiều bệnh tật. Các kinh sách nhấn mạnh: Thông Tam Quan thì khí huyết thông suốt, tinh thần minh mẫn, trường thọ (bách bệnh tiêu, tinh hóa khí). Không thông thì trăm bệnh sinh (thoát vị, tai biến, sinh lý yếu).

Trong Thư Đạo Toàn Tập , chương "Nội Đan Quyết" do Vương Mục Nhi biên soạn (khoảng 1700 SCN, đời Thanh) có ghi:

"Nội Gia Quyền, Tam Quan bất thông, tắc bách bệnh sinh; Tam Quan thông, tắc Tiểu Chu Thiên vận chuyển, Khí Huyết như giang hà bôn đăng."

Dịch nghĩa: Nội gia quyền, ba cửa không thông thì trăm bệnh sinh; ba cửa thông thì Tiểu Chu Thiên vận hành, khí huyết như sông lớn cuồn cuộn.

-----

Vậy "Tam Quan" được xác định như thế nào?

Đầu tiên là Vĩ Lư quan:

Địa điểm xác định là từ huyệt Hội Âm lên đến đốt xương cùng S2–S3.

Theo kinh sách nếu Vĩ Lư Quan không thông có thể dẫn đến đau lưng dưới, thoát vị trĩ, lạnh chân, sinh lý yếu, tiểu đêm

Tiếp theo là Giáp Tích Quan

Vị trí từ đốt sống D8 lên đến đốt sống D3 (khoảng 10–12 cm)

Nếu Giáp Tích Quan không thông có thể dẫn đến đau cổ vai gáy, hen suyễn, tim hồi hộp, tức ngực, mất ngủ, hay mơ

Tiếp theo là Ngọc Chẩm quan

Vị trí từ đốt sống C2 lên đến Bách Hội trên đỉnh đầu (khoảng 8–10 cm) cũng có thể xác định từ Phong Trì lên Bách Hội

Nếu Ngọc Chẩm quan tắc nghẹn có thể dẫn đến đau đầu kinh niên, cao huyết áp, chóng mặt, mắt mờ, hay quên, ù tai.

------------

Cách tự kiểm tra xem "Tam Quan" của mình như thế nào:

1 - Vĩ Lư Quan: Ngồi xổm, tay ôm gối, cúi đầu xuống, nếu đau nhói xương cụt hoặc lạnh chân có nghĩa là đang tắc.

2 - Giáp Tích Quan: Đan hai tay sau lưng, kéo mạnh → nếu đau tức giữa hai bả vai, thở khó có nghĩa là tắc.

3- Ngọc Chẩm Quan: Ngửa cổ ra sau hết cỡ nếu chóng mặt hoặc đau sau gáy tắc.

GHI CHÚ: Cách thử chỉ mang tính tham khảo

-------------

Tuy nhiên "Tam Quan thông" ở người bình thường rất khác với những người luyện tập Khí Công dưỡng sinh:

Đối với người thường "thông" ở đây chỉ "thông thô” (mạch máu, thần kinh giao cảm) còn đối với người luyện tập Khí Công dưỡng sinh đã có thành đạt thì là "Thông tinh” (vi mạch, kinh lạc, cả Nhâm Đốc + 8 mạch kỳ kinh) mạch Đốc sẽ dễ dàng với mạch Nhâm thành vòng Tiểu Chu Thiên tự vận động.

Ngoài ra nói đến tuổi thọ thì người bình thường có thể sống thọ nhưng khi về già thì thường sức lực yếu. Còn người luyện tập Khí Công Dưỡng sinh đạt thành thì về già vẫn duy trì được sức mạnh dẻo dai như thanh niên.

Còn về bệnh tật thì khả năng phục hồi cũng nhanh hơn rất nhiều.

Trần Phát Khoa (Đại sư Trần thức Thái Cực quyền) có nói :

“Người thường thông Tam Quan là khỏe mạnh.

Nội gia thông Tam Quan là bất lão.”

-------

Tìm hiểu cách luyện tập để "Thông Tam Quan"

Hầu hết các Môn khí công Đạo gia đều có "bí truyền" riêng để "thông Tam Quan" cho người luyện tập, nhưng cách Thông Tam Quan đều xoay quanh phối hợp bài tập Động công hợp lý với Tĩnh Công và Hít thở. Trong đó Trạm Trang và Ngồi Thiền ( Tọa Thiền Thông Quan) là những phương thức hữu hiệu được dùng nhiều.

Nổi tiếng trong Hình Ý quyền có Tam thể thức, còn Thái Cực quyền và Bát quái chưởng thì đứng Hồn nguyên trang. Ngoài ra bên Đạo gia có cách ngồi kiết già hít thở , hoặc dùng Phúc tức..

Đặc biệt hơn là có nơi dùng Thụy Công để thông Tam quan.

Tóm lại , Thông Tam Quan là quá trình lâu dài, đòi hỏi luyện tập kiên trì tuy nhiên nếu đạt được kết quả hoàn toàn xứng đáng so với công sức bỏ ra.

-----

![][image32]

"Huyết ứ" - "âm tà số một" của sức khỏe dưỡng sinh.

-----------------
Trung y kinh điển coi Huyết ứ là “âm tà số một”, nguy hiểm hơn cả đàm thấp và thực hỏa. Nó là là nguyên nhân gốc của ung thư, bướu cổ, u xơ, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, xuất huyết não .. ngày nay.

Trong tất cả các hệ thống tu luyện và y học cổ Trung Hoa, Huyết ứ được xếp vào loại “đại hung chi chứng”, chỉ đứng sau “tuyệt âm tuyệt dương” (chết hẳn).

Vương Thanh Nhiệm (1768–1831) người được Trung y chính tông gọi là “Thánh nhân của hoạt huyết hóa ứ”, người sáng lập “Ứ huyết học phái” có thể coi là người đã chỉ rõ tầm quan trọng của điều trị "Huyết ứ" đến sức khỏe dưỡng sinh, tăng cường tuổi thọ.

Trước ông, Trung y chỉ coi huyết ứ là một chứng nhỏ do ngoại thương. Vương Thanh Nhiệm nâng huyết ứ thành một chứng hậu độc lập, là gốc của trăm bệnh mạn tính và nan y.

Trong "Y Lâm Cải Thác" (quyển thượng), phần cuối của mục “Tổng luận trị ứ huyết pháp”. Vương Thanh Nhiệm có viết:

“Trị bách bệnh, bất quá hoạt huyết hóa ứ nhi dĩ” -

Câu nói này là khẳng định của Vương Thanh Nhiệm về gốc rễ của nhiều bệnh nằm ở chứng "Huyết ư" , ý của ổng có thể hiểu là :

Trong số hàng ngàn chứng bệnh mạn tính, nan y, kỳ bệnh mà cổ nhân bó tay (đặc biệt là bệnh đã kéo dài 5–10–20 năm), thì 80–90 % đều có ứ huyết làm gốc. Chỉ cần giải quyết triệt để cái gốc ứ huyết ấy, bệnh sẽ tự khỏi hoặc trở thành dễ chữa như bệnh thường.

Một số nguyên nhân gây ra Huyết ứ..

- Luyện công quá sức, phát kình quá mạnh - hoặc đối với người bình thường là lao động quá nặng nhọc không nghỉ ngơi đầy đủ.

- Luyện tĩnh công quá lâu ( Ngồi thiền, đứng trạm trang quá lâu) đối với người người bình thường thì là ngồi làm việc văn phòng quá lâu không vận động.

- Cảm phải hàn tà hoặc thấp tà: Hàn tà (lạnh) vừa vào lạc mạch là máu lập tức đông đặc, co rút lại dẫn đến ứ ngay lập tức. Thấp (ẩm ướt nặng nề) làm cho huyết dịch lưu thông chậm, dính nhớt dẫn đến tắc ở tôn lạc (mao mạch).

- Ăn uống bất tiết chế (đồ cay nóng, rượu, chất béo)

- Tâm lý căng thẳng, tức giận, uất ức lâu năm

- Tuổi tác: lão hóa cũng làm cho khí lực kém dẫn đến huyết ứ

Có câu “Tứ thập dĩ thượng, chính khí tự suy, huyết bất chí tôn lạc, công lực tự thoái” - Trên 40 tuổi, chính khí tự suy, huyết không đến tôn lạc, công lực tự thối lui.

--------

Tuy nhiên trị Huyết ứ không đơn giản .. không nên lạm dụng thuốc hoạt huyết.

Các Y sư đời sau, rất tán đồng vời Vương Thanh Nhiệm nhưng cũng nói thêm về việc lạm dụng "thuốc hoạt huyết", không phải ai cũng dùng "thuốc hoạt huyết" cũng tốt.

Lý Lão Nông đại sư Hình Y, người được giới nội gia quyền Trung Quốc tôn xưng là “Hình Ý Vương” có nói :

“Ngũ niên dĩ hạ, kinh lạc vị thông, cưỡng hành hoạt huyết chi công, tất nhập ma đạo”

Dịch nghĩa: dưới 5 năm kinh lạc chưa thông, cưỡng ép dùng công pháp hoạt huyết dẫn đến tẩu hỏa nhập ma.

Ngoài ra Lý Lão Nông cũng nói:

“Tam thập ngũ dĩ hạ, huyết khí phương cương, chưa tất hữu ứ, cường phá chi tất thương chính”

Dịch nghĩa: 35 tuổi trở xuống khí huyết đang mạnh, chưa chắc có ứ, cưỡng ép phá sẽ hại chính khí

Dương Lộ Thiền - Tổ sư của Dương thức Thái cực quyền – dòng Thái cực quyền phổ biến nhất thế giới hiện nay, trong "Dương thị gia truyền thủ sao bí quyết" có viết:

“Ta thấy gần đây người học quyền, ai cũng thích nói hoạt huyết hóa ứ, động một chút là uống Huyết Phủ Trục Ứ, Đào Hồng Tứ Vật Thang, thậm chí dùng Địa Long, Mã Hoàng… cho rằng có thể tăng công lực.

Đây là sai lầm cực lớn!

Người thể chất hư nhược vốn không có ứ huyết, cưỡng ép phá thì khí huyết đều thoát hết, nhẹ thì đại bệnh, nặng thì mất mạng.

Phương pháp của Vương Thanh Nhiệm chỉ dùng cho người bệnh lâu năm, luyện công sâu năm, và thực sự có chứng ứ huyết.

Người mới h

[Continued in full book]