Skip to content

khi-huyet

Khí và Huyết không phải là hai thực thể độc lập xếp cạnh nhau, mà là hai trạng thái âm dương của cùng một dòng năng lượng sống.

Nếu coi Huyết là Thể (Hữu hình) là trạng thái ngưng tụ, đậm đặc, có thể nhìn thấy, sờ thấy. Huyết mang tính Âm, đại diện cho vật chất, dinh dưỡng và sự tĩnh lặng.

Cũng có thể xét Khí là Dụng (Vô hình) là trạng thái phát tán, thưa thớt, mang tính vận động. Khí mang tính Dương, đại diện cho công năng, sự chuyển hóa.

Trong sinh lý học hiện đại và hệ thống Fascia (Cân mạc), ranh giới giữa Khí và Huyết chính là áp suất và sự chuyển hóa:

Huyết nằm trong lòng mạch (Hệ tuần hoàn).

Khí vận hành thông qua hệ thần kinh, sự co giãn của màng liên kết (fascia) và áp suất oxy trong tế bào.

Ranh giới thực sự chính là "Sự Chuyển Hóa": Khi vật chất (Huyết) được đốt cháy để tạo ra năng lượng (Khí), và khi năng lượng (Khí) được thu nhiếp để tái tạo tế bào (Huyết). Chúng là một khái niệm liên tục chứ không có vách ngăn tuyệt đối.

Có thế thấy trong thực tế nếu cơ thể lạnh, tay chân tê (Huyết thiếu hoặc ứ) nhưng nếu người mệt mỏi, hụt hơi dù ăn uống đủ thì đây là hiện tượng "Khí hư"

Trong một số lý luận Trung y có đưa ra coi Khí và Huyết giống như Nước và Sóng. Sóng là sự vận động (Khí), Nước là thực thể (Huyết). Không có nước thì không có sóng, nhưng nếu nước không động thì chỉ là nước chết (Huyết ứ).

Cho nên từ những kinh nghiệm luyện tập và thí dụ trên thực tế các lý luận về Khí công cho rằng ranh giới giữa Khí và Huyết chính là Ý (Ý niệm). Ý dừng ở đâu, Khí tụ ở đó; Khí tụ ở đâu, Huyết đến đó.

Mối quan hệ này được gói gọn trong nguyên lý:

"Ý đáo tắc Khí đáo, Khí đáo tắc Huyết tùy" - Ý dẫn đến đâu thì Khí theo đến đó, Khí dẫn đến đâu thì Huyết theo đến đó, đây cũng là ý trong Trung Y thường nhắc đến "Khí huyết đồng nguyên"

Tuy nhiên có vài sai lầm thường gặp khi người tập cứ nghĩ rằng chỉ cần tưởng tượng là máu sẽ chảy. Thực tế, Ý phải đi kèm với trạng thái thả lỏng tuyệt đối của thân xác thì "cổng" mới mở cho Khí Huyết đi qua.

Trong Trung Ý có 2 câu nói quan trọng về Khí và Huyết :

Lý Thời Trân trong "Bản Thảo Cương Mục" viết:

“Khí giả huyết chi soái” - ý nói khí là thống soái của huyết.

Đường Tông Hải trong "Huyết Chứng Luận" viêt:

“Khí huyết nhất thể” khí huyết là một thể, bổ khí tức bổ huyết, bổ huyết tức dưỡng khí. phát biểu rõ ràng và hoàn chỉnh nhất, tổng hợp thành cặp đôi đối xứng.

Trong luyện tập Dưỡng Sinh, Khí Huyết có mối quan hệ mật thiết với Hình, cho nên mới có câu:

"Hình vi khí chi trạch, hình dĩ tĩnh vi căn"

Giải nghĩa: Hình là nhà (nơi trú ngụ) của Khí; Hình lấy sự yên tĩnh làm gốc rễ.

Trong Hoài Nam Tử (Chương Nguyên Đạo Huấn) có viết:

"Phu Hình giả, sinh chi xá dã; Khí giả, sinh chi sung dã; Thần giả, sinh chi chế dã." - Hình là nhà ở của sự sống; Khí là cái làm đầy sự sống; Thần là cái điều khiển (chế ngự) sự sống. Cũng có hiểu câu này cô đọng hơn trong câu "Thần vi chủ, Khí vi dụng, Hình vi khí" chính là cách diễn đạt cô đọng hơn, mang tính kỹ thuật hơn của tư tưởng này để ứng dụng vào việc luyện tập.

Hiểu về Hình trong Dưỡng Sinh chính là hiểu về Nghệ thuật sắp đặt thân xác, sắp xếp xương khớp, cơ bắp và cân mạc vào một vị trí tối ưu nhất để "Khí" tự vận hành mà không cần nỗ lực.

Ví dụ trong Nội gia "Hình" trong một số Thức như một cây cung được lên dây đúng độ: không quá căng để đứt, không quá chùng để phế, mà vừa đủ để trở thành khí cụ cho sức mạnh vô hình xuyên thấu. - Đây cũng được hiểu trong trạng thái "Treo" trong Nội gia.

Tóm lại , "Khí huyết bản nhất khí, phân nhi vi nhị" — Khí và Huyết vốn không phải hai thực thể tách biệt, mà chỉ là hai biểu hiện khác nhau của cùng một nền tảng sinh mệnh.

---
![][image5]

Tìm hiểu về "NỘI CÔNG ĐỒ THUYẾT"

----------
"Nội Công Đồ Thuyết" hiểu nôm na là là minh họa và giải thích về Nội công, được biên soạn vào cuối thời Thanh bởi học giả – võ gia Vương Tổ Nguyên

Đây là tác phẩm có giá trị vì nó hệ thống hóa các phương pháp nội công cổ ngoài ra cũng minh họa bằng đồ hình cơ thể, kiến thức trong sách được kết hợp Đạo gia – dưỡng sinh – võ thuật

Có thể coi "Nội Công Đồ Thuyết" là một trong những tài liệu sớm kết nối khí công dưỡng sinh với nội công võ học.

Theo lời tựa của tác giả, mục đích chính của sách là:

- Giải thích các phương pháp nội công cổ truyền

- Minh họa đường vận hành khí trong cơ thể

- Giúp người luyện hiểu đúng thay vì luyện sai

Thời đó nhiều phương pháp truyền khẩu quyết bí truyền, nên người luyện thường hiểu sai rồi luyện sai ,thậm chí tổn hại sức khỏe.

Vì vậy sách được viết theo dạng “đồ + thuyết”:

"Đồ" : hình minh họa

"Thuyết" : giải thích

Trong giới nghiên cứu sách là tài liệu cổ điển quan trọng cho khí công y học hiện đại, được coi là cơ sở cho "Trung y dẫn đạo pháp"

---

Về tác giả của "Nội Công đồ thuyết":

Được cho là Phan Kế – một học giả thời Thanh – soạn thảo và viết lời tựa năm Tự Đức thứ 8 . Ông là người sưu tầm và biên tập các phương pháp cổ từ Đạo gia và Thiếu Lâm nội gia.

Sau này Vương Tổ Nguyên – một võ sư và học giả – đã dựa trên bản của Phan Kế để chỉnh lý, khắc in và phổ biến lại năm Quang Tự thứ 7, khôi phục tên gốc và bổ sung minh họa.

Sách có một vài quan điểm về luyện tập dưỡng sinh như sau:

Phần “Ngoại công quyết” (外功诀) – tức các nguyên tắc luyện ngoại công (thân thể) trước khi đi vào nội công có câu như sau:

"Nhất viết thủ,

Nhị viết túc,

Tam viết đầu,

Tứ viết thân,

Ngũ viết tâm,

Lục viết khí."

dịch sát nghĩa: Thứ nhất là tay, Thứ hai là chân, Thứ ba là đầu, Thứ tư là thân, Thứ năm là tâm, Thứ sáu là khí.”

có thể hiểu là:

Một là tay (luyện thủ pháp, phát lực).

Hai là chân (bộ pháp vững chãi).

Ba là đầu (thần thanh khí sảng).

Bốn là thân (thân thể linh hoạt).

Năm là tâm (ý niệm dẫn dắt).

Sáu là khí (khí thông suốt kinh lạc)

Phần Nội công sách có ghi:

"Nội công giả, luyện khí dã.

Khí giả, lực chi soái dã.

Lực do khí sinh, khí do ý lĩnh."

dịch:

Nội công là phép luyện khí.

Khí là vị “chủ soái” của lực.

Lực sinh ra từ khí, khí được dẫn dắt bởi ý.

Trong phần Dịch Cân Kinh ( Kinh điển thay đổi gân cốt)- đây là phần dài nhất trong bài viết, trích nhiều đoạn từ bản của Vương Tổ Nguyên, có ghi :

"Dịch cân giả, dịch cân cốt dã.

Cân cốt tráng, tắc khí huyết thông "

Dịch: Dịch cân nghĩa là biến đổi (rèn luyện) gân cốt. Khi gân cốt mạnh mẽ thì khí huyết lưu thông.

"Luyện cân bất luyện nhục,

luyện nhục tắc khí trệ"

Dịch: Luyện gân chứ không luyện cơ bắp;nếu chỉ luyện cơ bắp thì khí sẽ bị tắc.

Trong Dịch Cân Kinh (bản nội gia), nhấn mạnh luyện “màng” (lớp màng giữa cơ và xương), khí xuyên qua màng để thông suốt, chứ không phải phát triển cơ bắp bề mặt (như ngoại gia hoặc thể hình hiện đại). Nếu cơ bắp quá lớn, căng cứng, khí sẽ “trệ vu màng gian” (khí huyết bị ứ đọng trong khoảng giữa các lớp màng của cơ thể), dẫn đến nội lực không thông.

Lưu ý: Ý của cổ nhân không phải phủ nhận cơ bắp, mà là nhắc rằng sức mạnh thực sự không nằm ở cơ bắp riêng lẻ, mà ở sự liên kết đàn hồi của toàn bộ cấu trúc cơ thể.

Trong "Thập Nhị Đoạn Cẩm Tổng Quyết" sách có các động tác dưỡng sinh như "bế mục minh tâm tọa" (nhắm mắt ngồi tĩnh tâm), "khấu xỉ" (gõ răng), "minh thiên cổ" (gõ trống trời – xoa tai), "vi bãi hoán thiên trụ" (lắc nhẹ trụ trời – lắc cổ), "xích long giao thủy tấn" (rồng đỏ khuấy nước – súc miệng), v.v. Kết thúc bằng "hà xa ban vận tất" (vận chuyển sông xe – vận khí chu thiên).

Đây là bài tập tĩnh động kết hợp để thông khí huyết, dưỡng khí chìm đan điền. Các bài tập này tương đối phổ biến trong các lớp Dưỡng sinh Khí công tại Việt Nam, có thể nhiều người đã tập qua.

Ngoài ra sách có phần khá thú vị Thần Tiên Khởi Cư Pháp (Phương pháp sinh hoạt của thần tiên) Hướng dẫn hàng ngày: Sáng sớm ngồi tĩnh, điều tức, ý thủ đan điền; các thói quen dưỡng sinh để khí thông suốt...

Học giả sau này đánh gia sách được coi là "khí công dưỡng sinh chuyên""có giá trị tham khảo nhất định đối với y học hiện đại". Nó được đưa vào "Thiên Nhưỡng Các Thông Thư" và "Thông Thư Tập Thành Sơ Biên", năm 1956 Nhân dân Vệ sinh xuất bản bản in lại – chứng tỏ giá trị lưu trữ và phổ biến lâu dài. Học giả coi đây là "cơ sở quan trọng cho khí công trị liệu" thường được y học Trung Quốc truy nguyên như phần của "đạo dẫn pháp"

Tóm lại, "Nội Công Đồ Thuyết" là sách kinh điển, đáng tin cậy, có giá trị học thuật cao trong khí công dưỡng sinh và nội gia quyền – đặc biệt nhờ hình vẽ minh họa rõ ràng, dễ thực hành, và phổ biến rộng rãi nhiều lần tái bản. Nó không phải "thần bí" như một số bí kíp võ hiệp, mà là tài liệu thực tiễn, giúp "ngoại hỗ trợ nội" (ngoại công hỗ trợ nội công), tránh khí tắc.

Chiêm - Liên - Niêm - Tùy .

Bản chất của Thôi Thủ - Thái Cực Quyền.
---------
Trong hệ thống lý luận của Thái Cực Quyền, bốn chữ Chiêm – Liên – Niêm – Tùy được xem là nguyên lý cốt lõi của Thôi Thủ

Có thể nói rằng dù kỹ pháp trong Thôi Thủ thiên biến vạn hóa, nhưng về bản chất vận hành của kình lực cũng không ngoài bốn trạng thái này. Đây là cơ chế giúp người tập tương tác với lực của đối phương mà không rơi vào đối kháng trực diện.

Trong Thái Cực quyền luận có viết:

"Niêm niên liên tùy, bất đâu bất đỉnh" - dịch đơn giản là: giữ tiếp xúc liên tục nhưng không tạo phản lực đối kháng.

Đây chính là nguyên tắc khiến Thôi Thủ trở nên “khó hiểu” đối với nhiều người luyện võ. Trong phần lớn các môn võ, việc dùng lực để đối kháng trực tiếp là điều tự nhiên. Nhưng Thái Cực Quyền lại chủ trương không chống lực, mà thông qua cảm nhận và dẫn dắt lực của đối phương.

Cũng cơ thể hiểu cơ chế của Chiêm - Liên - Niêm - Tuỳ sẽ giúp cho người tập hạn chế tối đa việc phải dùng lực đối kháng, tiết kiệm sức và cũng có thể đi đến được thứ gọi là "Linh Giác"

-------------

Tìm hiểu về bản chất của "Chiêm - Liên - Niên - Tuỳ"

+ Chiêm : Chạm dính nhẹ nhàng như ngón tay chạm nước, không lực mà có lực. Là bước đầu “tiếp xúc” để “thính kình.

+ Liên : Có thể hiểu trong câu “liên miên bất tuyệt” thể hiện sự liên kết liên tục, không đứt đoạn. Như dòng nước chảy mãi, dù đối phương tiến thoái, lên xuống, ta vẫn “hòa làm một thể”, không để khoảng trống.

+ Niêm: Dính như keo, nhưng mềm mại như vải ướt quấn vào tay.

+ Tùy: Theo sát, tùy cơ ứng biến. “Tùy nhân sở động, ý tại nhân tiên” – đối phương động trước ta theo sau, nhưng ý ta đã đi trước nửa bước. Có thể hiểu theo khía cạnh "Tuỳ" không phải chạy theo mà là “dẫn tiến”

Bốn trạng thái này thực chất tạo thành một chu trình cảm ứng lực:

Chiêm => Liên => Niêm => Tùy trong đó

Chiêm: tiếp xúc để nghe kình

Liên: duy trì kết nối

Niêm: bám theo lực

Tùy: thuận theo chuyển động

Nhờ vậy người tập có thể dẫn lực đối phương mà không cần đối kháng trực tiếp, phù hợp với nguyên lý nổi tiếng của Thái Cực:

"Bất đâu bất đỉnh" – không rời, không chống.

Trong các Kinh điển hoặc thuật ngữ dùng hàng ngày "Chiêm - Liên - Niêm - Tuỳ" có thể diễn đạt tưng tự như :

"Niêm niêm liên tùy" - hai chữ niêm đứng liền nhau để nhấn mạnh trạng thái dính liên tục. hoặc "Niêm liên niêm tùy"

----

Vậy tại sao vì sao trong kinh điển Thái Cực chữ “沾 (chiêm)” thường đặt trước “粘 (niêm)” ?

Trong "Dương Thị lão phổ" được lưu truyền từ Dương Lộ Thiền, có giải thích:

=> “Chiêm” (沾) là "Tiềm thượng bạt cao" – nhẹ nhàng phủ lên, nâng cao đối phương. Giai đoạn tiếp xúc ban đầu “tri kỷ” ,cửa vào để “tri nhân” (để nghe, để thính). Không “chiêm” thì không có cửa vào, không nghe được kình của đối phương.

=> “Niêm” (粘) là "lưu luyến quyến quyến" – lưu luyến quấn quýt, như tình ý sâu đậm không rời – dính chặt, giữ chặt, khiến đối phương không thoát nổi.

Đây là thể hiện của nguyên tắc “tiên khinh hậu trọng, tiên thính hậu chế” - trước nhẹ sau nặng, trước nghe sau chế - trong Nội gia quyền nói chung.

--

Phương pháp luyện tập: “Vị Kình”

Để thực sự cảm nhận được sự biến hóa của Chiêm – Liên – Niêm – Tùy, trong Thái Cực Quyền có một phương pháp luyện tập đặc biệt gọi là:

喂劲 – Vị Kình

Hiểu đơn giản, đây là phương pháp người có công phu truyền cảm giác kình lực cho người mới học thông qua tiếp xúc trực tiếp. Nhờ đó người học có thể dần dần cảm nhận được những biến hóa tinh tế của lực.

Nhiều người luyện Thái Cực rất lâu nhưng vẫn khó hiểu được bản chất của Thôi Thủ, bởi vì chỉ học kỹ thuật mà không trải qua giai đoạn “vị kình” thì rất khó cảm nhận được những nguyên lý này bằng thân thể.

Lưu Dĩ hãy còn gọi là Lưu Nhất , một cao nhân được nhắc trong Tôn Thị Thái Cực Quyền Luận và các tài liệu nghiên cứu Tôn Lộc Đường. Ông là Đạo gia học giả nổi tiếng thời Thanh – Dân Quốc, ông mô tả về Vị Kình như sau:

“Vị Kình không phải kình pháp, mà là quá trình luyện Thôi Thủ sau khi đã quen cơ bản. Thái Cực cần ‘tri kỷ tri nhân’ – biết mình biết người – đến mức ‘thân tri’ , cơ thể tự biết, mới hữu dụng.”

Trong "Lý Kinh Ngô tự thuật" - trích nguyên văn từ sách Lý Kinh Ngô Truyền Trần Ngô Thái Cực Quyền Tập và tiểu sử ông, lưu truyền trên nhiều trang võ thuật Trung Quốc:

“Bốn mươi năm đầu thế kỷ 20, tôi nghe tin Trần Phát Khoa – truyền nhân đời thứ 17 Trần Thị Thái Cực – đang truyền nghệ tại Bắc Kinh. Tôi ngưỡng mộ ‘quấn ti kình’ của Trần phái, bái ông làm sư phụ, học Trần Thị Thái Cực quyền và Trần Thị Thôi Thủ. Ngoài việc đến chỗ sư phụ học theo giờ quy định, tôi còn mỗi tuần hai lần chuyên tiếp để được ông chỉ điểm riêng.”

Có thể hiểu "chỉ điểm riêng" trong đoạn văn này chính là Trần Phát Khoa đã dùng phương pháp Vị Kình để chỉ điểm "nhanh" cho Lý Kinh Ngô.

Những hình thức chỉ điểm trực tiếp như vậy có thể xem là một dạng truyền kình rất phổ biến trong luyện tập nội gia quyền.

Tóm lại "Chiêm – Liên – Niêm – Tùy" không phải là những kỹ thuật riêng lẻ, mà là nguyên lý vận hành của kình lực trong Thôi Thủ.

Khi người tập có thể cảm nhận và vận dụng được bốn trạng thái này một cách tự nhiên, việc tương tác lực sẽ trở nên mềm mại và linh hoạt hơn, từ đó dần dần tiếp cận tới trạng thái mà các bậc tiền nhân gọi là “linh giác” – khả năng cảm nhận lực tinh tế của thân và tâm.

![][image6]

Võ thức Thái Cực Quyền đích tẩu giá đả thủ

- Hác Nguyệt Như viết -
----------------------
Hác Nguyệt Như là một Đại tông sư của Võ thức Thái cực quyền.
Sinh năm 1877, mất năm 1935 (thời Dân Quốc).

Là con trai của Hạo Vi Chân (郝為真, Hao Weizhen, 1849–1920) – một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Lý Diệc Thư (李亦畲, Li Yiyu).

Lý Diệc Thư là truyền nhân trực tiếp của Võ Vũ Tương (武禹襄, Wu Yuxiang) – người sáng lập Võ thức Thái cực quyền (kết hợp từ Trần gia Tiểu giá và Dương gia).

Do đó, Hạo Nguyệt Như thuộc đời thứ tư của dòng Võ thức: Võ Vũ Tương → Lý Diệc Thư → Hạo Vi Chân → Hạo Nguyệt Như.

----------------------

Thái Cực Quyền không ở hình thức mà ở khí thế, không ở bên ngoài mà ở bên trong. Thường ngày luyện công đi quyền, cần nghiên cứu, suy ngẫm đạo lý không–tùng–viên–hoạt; phải khiến thần khí cổ đãng, toàn thân giống như quả cầu khí, khí thế quý ở sự đằng–na; thân thể như treo lơ lửng. Hai tay dù cao thấp, co duỗi, một trước một sau, một trái một phải, đều có thể linh hoạt tự nhiên.

Hai chân dù tiến lùi, xoay trái xoay phải, hư thực biến hóa, không gì không tùy ý. Lâu ngày công sâu, đạt đến cảnh giới không biết tay múa thế nào, chân bước thế nào. Hiểu rõ nguyên lý, luyện thuần thân pháp, giỏi dùng ý, khéo vận khí; đến mức ấy, nhất cử nhất động đều hợp độ, không có cái gọi là sai.

Người học Thái Cực Quyền tất trước phải cầu “vĩ lư chính trung”. Chính trung là gốc xương sống đối thẳng với trung tâm mặt. Bước chân trái, hông trái hơi rút lên về trái, dùng hông phải nâng hông trái; bước chân phải, hông phải hơi rút lên về phải, dùng hông trái nâng hông phải; thì vĩ lư tự nhiên chính trung. Có thể chính trung thì có thể chống đỡ tám mặt; có thể chống đỡ tám mặt thì có thể xoay chuyển tự nhiên, không chỗ nào không đắc lực.

Tiếp theo là bước pháp phân rõ hư thực: hư không phải hoàn toàn vô lực, bên trong phải có thế đằng–na, tức là thế dự động; thực không phải hoàn toàn chiếm hết, bên trong phải quán chú tinh thần, tức là ý nâng lên. Phải nhớ khi hai chân ở thế trước cung sau đạp, không được hoàn toàn chiếm hết, nên phân rõ một hư một thực, nếu không sẽ thành bệnh song trọng.

Hai vai phải buông lỏng, không dùng chút lực nào; dùng lực thì không thể xả kỷ tòng nhân, dẫn nhập lạc không. Trầm khuỷu là ý khuỷu tay luôn hướng xuống trầm. Cẳng tay và hai đùi phải chú ý bên trong có thế đằng–na; không có đằng–na thì không linh hoạt, không linh hoạt thì không có thú vị viên hoạt. Lại phải hộ đôn; đôn không hộ thì dựng vĩ vô lực, toàn thân không có chủ tể.

Lại phải dưỡng khí; khí phải nuôi dưỡng ngay thẳng mà không hại, tức là trầm nơi đan điền, hàm dưỡng mà không tổn thương. Lại phải súc kình; kình phải tích công mà dư dả, lại phải thu súc vào trong xương sống. Hít là hợp là súc; thở là khai là phát. Vì hít thì tự nhiên nâng lên được, cũng nâng được người; thở thì tự nhiên trầm xuống được, cũng thả được người ra. Đây là lấy ý vận khí, không phải lấy lực sai khí; đó chính là đạo hô hấp của Thái Cực Quyền (chữ “hô hấp” ở đây chuyên chỉ khai, hợp, súc, phát của Thái Cực Quyền, khác với hô hấp thường ngày, xin người đọc chớ hiểu lầm).

Thái Cực Quyền là kỹ nghệ cực kỳ tinh vi xảo diệu, không phải dựa vào lực lớn tay nhanh. Người lực lớn tay nhanh vốn thiên phú tự nhiên, còn cần gì học nữa. Vì vậy muốn học kỹ nghệ này, nên trước cầu hàm hung, bạt bối, khỏa đương, hộ oản, đề đỉnh, điếu đương, tùng vai, trầm khuỷu, phân rõ hư thực.

Những điều ấy đúng rồi, lại cầu liễm khí, khí liễm vào xương sống, chú nơi eo. Sau đó lại cầu đằng–na. Đằng–na tức là tinh–khí–thần vậy. Tinh–khí–thần quán chú vào hai chân, hai đùi, hai tay, hai đoạn trước cánh tay. Người chạm ta chỗ nào, ta chú ý chỗ ấy; toàn thân không một tấc nào không có tinh–khí–thần, không một tấc nào không phải Thái Cực; rồi mới cầu pháp tiến lui xoay chuyển. Trục xoay ở khe eo. Có thể xoay chuyển tự nhiên, không loạn chút nào, lại cầu thuật động–tĩnh: tĩnh thì vô, trong vô sinh hữu, tức là có ý. Ý không định hướng, phải chống đỡ tám mặt.

Khi đơn luyện, mỗi thế phân bốn chữ: khởi, thừa, khai, hợp. Mỗi chữ tự hỏi có chống đỡ tám mặt được không; không được thì lập tức suy ngẫm sửa lại. Khi hai người đánh tay, ý ta phải ở trước; tay người nhanh không bằng ý ta trước; lực người lớn không bằng khí ta liễm; người lấy lực lớn đánh tới, ta dùng ý đi tiếp, hơi chạm da lông mà không cho trúng, mượn lực họ, thuận thế họ, bốn phương tám hướng chỗ nào thuận thì đánh chỗ ấy. Phải nhớ không dùng lực, không trọng khí, không đỉnh, không bỏ; phải tòng nhân mà vẫn do kỷ, được cơ được thế thì tùy tay mà hiệu quả. Động cũng là ý; bước động mà thân pháp không loạn, tay động mà khí thế không tán.

Khi đơn luyện, mỗi động phải tự hỏi có thể từ động mà chuyển tám mặt không; không được thì lập tức suy ngẫm. Khi hai người đánh tay, ta muốn đi họ, trước phải sắp xếp toàn thân, ý vẫn ở trước, đối định trọng điểm mà đi thẳng; ý ta vừa chạm da lông họ, nếu thuận tay thì một thở là ra; nếu lực họ đỉnh tới, không cho lực ấy phát ra, ý ta vẫn mượn lực họ, không bỏ không đỉnh, thuận lực mà đánh; đó là dùng tiềm lực đánh người, cái diệu bốn lạng đẩy ngàn cân. Toàn là lấy ý vận khí, không phải lấy lực sai khí. Có thể dùng ý đánh người, lâu ngày thì ý cũng không cần, thân pháp không gì không hợp.

Đến cảnh giới ấy đã đạt viên dung tinh diệu. Nói có thì có, nói không thì không; nhất cử nhất động, không gì không từ tâm sở dục. Thật không biết tay múa thế nào, chân bước thế nào nữa.

Người học Thái Cực Quyền phải ngộ lý Thái Cực. Muốn biết lý Thái Cực, khi hành công trước phải đề khởi toàn bộ tinh thần, ngoài biểu an nhàn, trong cố tinh thần, khí thế đằng–na, bụng trong cổ đãng. Thái Cực tức là toàn thân, toàn thân tức là Thái Cực. Như quả cầu khí, tiến không lồi, lùi không lõm, xoay trái không khuyết, xoay phải không sụp; biến hóa vạn đoan, tuyệt không đứt đoạn. Một khí mà thành, không ngoài không trong, hình thần đều quên, mới có thể tiến vào tinh vi.

Nếu có thể đạt đến cảnh giới ấy, thì dù ứng địch hay luyện công, đều không rời một khí. Một khí này không phải khí thô trọc, mà là khí được liễm lại, được nuôi dưỡng, được vận hành bởi ý. Ý đến thì khí đến, khí đến thì kình đến; ý không tán thì khí không tán, khí không tán

[Continued in full book]