Skip to content

dung-y-dan-khi

DÙNG Ý DẪN KHÍ: Sai lầm Tinh vi của người tập Nội gia quyền

-----------------------------
Một nguyên lý khi tập Nội gia quyền đó là khi Hình (cấu trúc cơ thể, tư thế cơ thể) đúng thì khí tự điều chỉnh hợp lý.
Trên thực tế "Khí thuận" thường không gây cảm giác mạnh;
cảm giác nóng – rung – chạy – tê thường xuất hiện khi khí bị dồn, nghịch hoặc bế. khi "Khí hoạt động đúng" cảm giác thường : Nhẹ - Trầm - Liền

Bản chất "sai lầm" của một số người tập Dưỡng Sinh, Khí công, Nội gia quyền .. đó là cứ "chạy' theo "cảm giác", khi cảm giác lên mạnh lại cho là "đắc khí" hay "Khí cảm".. rồi tập lại cứ đi tìm "cảm giác trước đó"

Quay trong số 1 của những người tập quyền Nội gia hay tập những bài tập Dưỡng Sinh và kể cả luyện tập hít thở đó là:

"GIỮ HÌNH CHO ĐÚNG"

“Giữ hình” ở đây không phải là giữ bằng cơ lực hay cố định tư thế, mà là giữ trật tự cấu trúc để hình tự đứng.

Tôn Lộc Đường có câu:

"Hình chính tắc khí thuận"

Giải nghĩa: Hình đúng thì khí thuận tự nhiên;

Như vậy phải làm rõ ý này: Không phải dùng "Ý" dẫn "Khí" mà là dùng "Ý" để giữ "Hình" rồi từ đó "Khí " tự nhiên hành theo hình thái tự nhiên -> đây mới là cách tập "đúng đắn"

Trong Nội gia quyền và Khí công Dưỡng sinh, hậu học thường tổng kết tinh thần Đạo gia bằng mệnh đề:

“Dĩ tâm dịch khí, khí tất loạn” – dùng tâm sai khiến khí thì khí tất loạn.

"Khí" trong cơ thể vốn chạy theo nguyên lý tự nhiên do trời đất vũ trụ quy định vốn có "lý" của nó, nếu chúng ta lấy cái ý thô thiển của chủ quan cá nhân áp dụng, cưỡng ép lên nó chắc chắn là "không thuận tự nhiên" dẫn đến sinh cái không mong muốn.

Trang Tử trong "Nhân Gian Thế" có viết:

"Duy đạo tập hư. Hư giả, tâm trai dã"

Giải nghĩa : Chỉ có Đạo tụ nơi hư. Hư ấy gọi là tâm trai., trong đó nên hiểu "Hư" là không can thiệp, không thao túng, còn "Tâm trai" là tâm không điều khiển, không cưỡng ép

Trang Tử chủ trương “tâm trai”, phủ định việc dùng ý thức can thiệp vào vận hành tự nhiên; từ đó trong võ–đạo hình thành quan niệm: dùng tâm sai khiến khí thì khí tất loạn.

Trong yếu quyết thứ nhất trong "Thái cực quyền thập yếu" của "Thái cực quyền Dương gia chính tông", phần giải thích về "hư linh đỉnh kình" có viết:

"Hư linh đỉnh kình... Thần quán vu đỉnh dã. Bất khả dụng lực, dụng lực tắc hạng cương, khí huyết bất năng thông lưu, tu hữu hư linh tự nhiên chi ý. Phi hữu hư linh đỉnh kình, tắc tinh thần bất năng đề khởi dã."

Giải nghĩa:

Hư linh đỉnh kình: "Hư linh" nghĩa là hư không (không chấp trước, thanh tịnh) và linh hoạt (sống động, nhạy bén). Đầu phải "treo hư linh" như dây treo từ trên, không cứng nhắc mà tự nhiên sống động.

Tuyệt đối không được dùng lực thô (cưỡng ép). Nếu dùng lực sẽ cứng (cương), khí huyết không thông lưu (tắc nghẽn, không lưu chuyển). Đây phê phán lỗi dùng lực cục bộ, dẫn khí huyết trệ (ngưng trệ), cổ căng – sai lầm phổ biến ở người mới, liên hệ với "dĩ tâm dịch khí, khí tất loạn".

Trong đó câu "Tu hữu hư linh tự nhiên chi ý" có nghĩa là phải có ý hư linh tự nhiên – ý niệm thanh tịnh, sống động, thuận tự nhiên (không cưỡng ép). Ý đây là ý minh tinh tế, không thô bạo.

Nếu không có hư linh đỉnh kình, thì tinh thần (tinh thần toàn thân) không thể đề khởi (nâng lên, sống động). Không đỉnh kình hư linh, thần sẽ trầm (chìm, uể oải), toàn thân mất linh hoạt, khí không quán thông.

---

Làm sao để " Giữ hình cho đúng"

Muốn giữ hình cho đúng cần loại trừ hai trạng thái : 1 là "Gồng cứng" 2 là "Buông rã"

Đầu tiên phải "Lập thân cho trung chính" có nghĩa là "giữ trục" cho chuẩn - trục đây có thể lấy chính là xương sống.

Không chỉ đứng tĩnh, mà trong mọi động tác (luyện quyền, đẩy tay, phát kình) đều giữ trung chính – thân không nghiêng trước ngửa sau, trái phải, lên xuống bất ổn.

Tiếp theo là "Trung định thì khí thư" : Khi đạt được sự ổn định trung tâm (trung định), thì khí sẽ tự nhiên lan tỏa thoải mái (khí thư) cụ thể là đứng yên mà cảm giác trọng lượng tự rơi, không “níu” thân lên, không “đè” xuống

Giữ độ mở của khớp một cách hợp lý, khớp là đường thông của khí, không căng cứng cũng như quá trùng các khớp

Cuối cùng là giữ liên kết toàn thân "Nhất động toàn thân động" Một động thì không gì không động, một tĩnh thì không gì không tĩnh. Trong Nội gia quyền có nguyên tắc "ngoài tam hợp" cũng có thể dùng:

+ " kiên dữ khoái hợp" - Vai hợp với hông

+ " trửu dữ tất hợp" - Khuỷu hợp với gối

+ "thủ dữ túc hợp" - Tay hợp với chân

Nói tóm lại *Ý trong Nội gia không phải để điều khiển "Khí" trong cơ thể, mà để nhận biết và duy trì trật tự:

– trục còn đúng không

– trung còn ổn không

– khớp có bị khóa hay rã không

Trương Tải - một trong những Triết gia quan trọng bậc nhất của Tống Nho - thiên về bản thể luận của Khí, được xếp vào "Bắc Tống ngũ tử" có tư tưởng:

"Hình chính thì khí thuận"

Khi cấu trúc cơ thể đúng trật tự, thì khí tự vận hành thông suốt, không cần cưỡng ép.

Tư tưởng “Hình chính thì khí thuận” của Trương Tải chính là nền bản thể học sâu xa cho toàn bộ Nội gia quyền: khí không cần dẫn, chỉ cần không bị cản bởi hình sai.

----
![][image19]